mồi cho quán nhậumón cho vườn bia (beer garden)fingerfood tốt cho nhà hàngcua cấp đông có ngon không?
Xuất bản ngày 27/10/2026 02:38 PM

Bảo vệ người sáng tạo trong thời đại AI

(VTC News) -

Trước nguy cơ trí tuệ nhân tạo (AI) sao chép giọng hát, hình ảnh và tác phẩm để trục lợi, cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền lợi người sáng tạo trong môi trường số.

AI có thể “hát” bằng giọng của bất kỳ ca sĩ nào, họa tiết thổ cẩm cũng có thể bị thuật toán “quét tự động” về làm dữ liệu. Thảo luận ở tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa ngày 24/10, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng luật không chỉ cần ghi nhận quyền mà còn phải trao cho người sáng tạo công cụ để tự bảo vệ.

Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình Quốc hội sáng 24/10. (Ảnh: Duy Linh)

Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình Quốc hội sáng 24/10. (Ảnh: Duy Linh)

Chỉ cần vài phút ghi âm, một phần mềm trí tuệ nhân tạo (AI) đã có thể “hát” bất kỳ ca khúc nào bằng giọng của một ca sĩ nổi tiếng. Trên các nền tảng chia sẻ video, những bản “AI cover” mô phỏng giọng ca sĩ, kể cả những nghệ sĩ đã qua đời, thu hút hàng triệu lượt xem. Không ít ca sĩ đã lên tiếng phản đối khi giọng hát của mình bị dùng để phối lại ca khúc rồi đăng tải lên các nền tảng âm nhạc số để thu lợi mà không được cấp phép.

Câu chuyện không chỉ dừng ở âm nhạc. Tại phiên thảo luận ở tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, có ý kiến đại biểu cho rằng các họa tiết thổ cẩm của đồng bào dân tộc thiểu số, các thiết kế áo dài lấy cảm hứng từ hình tượng hoa sen có thể bị các thuật toán AI trích xuất, quét tự động.

Một đại biểu khác cho biết nhiều nghệ sĩ biểu diễn, nhạc sĩ, họa sĩ đang bị các hệ thống AI tự động thu thập trái phép tác phẩm để huấn luyện hoặc bị dùng công nghệ giả mạo giọng hát, tiếng đàn, hình ảnh để kinh doanh trục lợi.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị khẳng định văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn cho phát triển đất nước. Một nền công nghiệp văn hóa khó lớn mạnh nếu giọng hát, nét vẽ, câu chữ của chủ thể sáng tạo bị máy móc sao chép mà không ai hỏi ý kiến, không ai chia sẻ lợi ích.

Quyền đã có, công cụ còn thiếu

Chỉ trong thời gian ngắn, khung pháp lý của Việt Nam về AI và quyền tác giả đã có nhiều thay đổi.

Luật Trí tuệ nhân tạo, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, nghiêm cấm thu thập, sử dụng dữ liệu để huấn luyện hệ thống AI trái với pháp luật về sở hữu trí tuệ. Nội dung âm thanh, hình ảnh, video do AI tạo ra phải được đánh dấu; nội dung mô phỏng ngoại hình, giọng nói của người thật phải được gắn nhãn dễ nhận biết.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực từ ngày 1/4/2026, lần đầu cho phép sử dụng văn bản, dữ liệu đã được công bố hợp pháp để huấn luyện AI, với điều kiện không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền.

Tiếp đó, Nghị định số 134/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định tác phẩm có sự hỗ trợ của AI chỉ được bảo hộ khi con người có đóng góp đáng kể, mang tính quyết định và chứng minh được đóng góp đó.

Nghị định cũng ghi nhận quyền “bảo lưu” của tác giả, tức là quyền không cho phép dùng tác phẩm của mình để huấn luyện AI trong những trường hợp nhất định thông qua các cơ chế công khai như thông tin quản lý quyền ở dạng máy đọc được hoặc tuyên bố qua tổ chức quản lý tập thể quyền.

Như vậy, trên văn bản, người sáng tạo đã có quyền. Nhưng để dùng được quyền đó, họ phải hoàn thành những yêu cầu không đơn giản. Muốn từ chối cho AI “học” tác phẩm của mình, tác giả phải gắn thông tin bảo lưu theo chuẩn kỹ thuật mà máy đọc được. Muốn được công nhận là tác giả khi có dùng công cụ AI, họ phải lưu giữ và chứng minh được quá trình sáng tạo. Với một họa sĩ tự do, một nhạc sĩ độc lập hay một nghệ nhân làng nghề, đó là rào cản thực sự.

Chính khoảng cách giữa “quyền trên giấy” và “quyền trong đời sống” là chỗ Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có thể phát huy vai trò.

Dự thảo đã có nền móng

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa trình Quốc hội đã có những quy định theo hướng này. Dự thảo xác lập nguyên tắc việc ứng dụng AI và công nghệ mới phải tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, quyền nhân thân và quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể sáng tạo.

Đáng chú ý, dự thảo quy định nền tảng số hỗ trợ quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa với các chức năng xác thực chủ thể sáng tạo, lưu nhật ký sáng tạo, hỗ trợ đăng ký và lập hồ sơ quyền, sử dụng chữ ký số, dấu thời gian để bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu. Nhà nước cung cấp miễn phí nền tảng này ở mức cơ bản. Nói cách khác, người sáng tạo có một “cuốn sổ” được số hoá ghi lại ai đã làm gì, vào lúc nào.

Trong nhóm hành vi bị nghiêm cấm, dự thảo nêu rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, giả mạo chủ thể sáng tạo và sử dụng trái pháp luật dữ liệu văn hóa số.

Những quy định này là nền móng tốt. Tuy nhiên, qua thảo luận ở tổ, có thể thấy ít nhất ba điểm cần được làm rõ hơn trước khi Luật được thông qua.

Ba “khoảng trống” được chỉ ra

Thứ nhất, cấm “giả mạo chủ thể sáng tạo” nhưng chưa gọi tên hành vi nhái giọng bằng AI.

Nhiều đại biểu đề nghị bổ sung trực tiếp vào điều khoản về hành vi bị nghiêm cấm hai nhóm hành vi đang diễn ra phổ biến: dùng AI nhái giọng nói, hình ảnh, phong cách của nghệ sĩ và thu thập trái phép tác phẩm để huấn luyện AI. Có đại biểu đề xuất bổ sung một khoản cấm riêng đối với việc sử dụng AI, công nghệ số để sao chép, giả mạo giọng nói, hình ảnh, biểu diễn, phong cách tác phẩm, hoặc khai thác trái phép tri thức văn hóa dân gian, di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng khi chưa được sự đồng ý. Ý kiến khác đề nghị nêu rõ hành vi thu thập, sử dụng trái phép dữ liệu văn hóa số, tác phẩm văn học, nghệ thuật để huấn luyện AI.

Vì sao cần gọi tên cụ thể? Luật Trí tuệ nhân tạo đã cấm dùng yếu tố giả mạo, mô phỏng người thật nhằm lừa dối, thao túng nhận thức và yêu cầu gắn nhãn nội dung mô phỏng. Nhưng một bản “AI cover” được gắn nhãn đầy đủ, không nhằm lừa dối ai, vẫn có thể khai thác thương mại giọng hát của ca sĩ.

Bộ luật Dân sự có quy định về quyền đối với hình ảnh nhưng chưa có quy định riêng về giọng nói, còn pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ giọng nói hay phong cách tự thân. Khoảng trống nằm đúng ở thị trường công nghiệp văn hóa, nơi giọng hát, gương mặt, phong cách của nghệ sĩ là tài sản có giá trị kinh tế.

Tuy nhiên, phạm vi cấm cũng cần được cân nhắc thận trọng, bởi nếu cấm quá rộng, những hình thức sáng tạo hợp pháp như nhại lại, châm biếm, phê bình hay học hỏi phong cách vốn là một phần tự nhiên của nghệ thuật có thể bị ảnh hưởng. Bài toán đặt ra là gọi tên đúng hành vi cần cấm mà không bóp nghẹt tự do sáng tạo.

Thứ hai, nền tảng số chưa “nối” được với quyền mà Nghị định 134 trao cho tác giả.

Nhật ký sáng tạo có dấu thời gian trên nền tảng số có thể trở thành một nguồn bằng chứng giúp tác giả chứng minh đóng góp của con người khi có dùng AI. Dù vậy, dấu thời gian chỉ cho thấy tác phẩm tồn tại vào một thời điểm, chưa đủ để chứng minh ai là tác giả hay chủ sở hữu.

Nền tảng cũng không thể thay thế việc đăng ký, xác lập quyền và giải quyết tranh chấp. Hệ thống xác thực chủ thể sáng tạo cũng có thể là nơi tác giả công bố việc bảo lưu quyền để các nhà phát triển AI tra cứu. Tuy nhiên, dự thảo chưa giao cho nền tảng các chức năng này, cũng chưa xác định giá trị pháp lý của nhật ký sáng tạo khi có tranh chấp.

Tại tổ, có đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc dữ liệu sáng tạo do người dùng cung cấp trên nền tảng không được sử dụng ngoài mục đích cung cấp dịch vụ, không được chuyển giao cho bên thứ ba hoặc khai thác để huấn luyện AI khi chưa có căn cứ pháp lý phù hợp, đồng thời bảo đảm quyền kiểm soát, truy xuất dữ liệu của chủ thể sáng tạo. Đây là đề xuất đáng chú ý, bởi một nền tảng sinh ra để bảo vệ người sáng tạo trước hết phải bảo đảm chính dữ liệu của họ không trở thành “nguyên liệu” cho AI.

Thứ ba, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia có thể mở đến đâu, cho ai, ai được hưởng lợi.

Dự thảo sử dụng nhiều lần cụm từ “dữ liệu văn hóa số” nhưng chưa giải thích khái niệm này. Việc dữ liệu trong Kho có được cung cấp cho doanh nghiệp huấn luyện mô hình AI thương mại hay không, theo điều kiện nào, chủ thể dữ liệu được hưởng lợi gì, hiện được giao Chính phủ quy định chi tiết.

Do đó, cần bổ sung nguyên tắc phân loại dữ liệu văn hóa do Nhà nước quản lý thành dữ liệu được công khai tái sử dụng, dữ liệu khai thác có điều kiện và dữ liệu bị hạn chế tiếp cận theo quy định của pháp luật. Mặt khác, cần nghiên cứu cơ chế cấp phép khai thác thương mại dữ liệu văn hóa số. Có ý kiến đề nghị quy định rõ trách nhiệm bảo vệ dữ liệu văn hóa có nguồn gốc từ cộng đồng, đặc biệt là của đồng bào dân tộc thiểu số.

Vấn đề này đặc biệt quan trọng với dữ liệu di sản, tri thức dân gian. Chủ thể của chúng là cộng đồng, những người khó có thể tự mình “bảo lưu quyền” theo chuẩn kỹ thuật.

Mặt khác, dữ liệu văn hóa số cũng là nguồn lực. Luật Trí tuệ nhân tạo đã xác định ưu tiên dữ liệu tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số trong danh mục bộ dữ liệu phục vụ phát triển AI. Một kho dữ liệu được chuẩn hóa, có cơ chế cấp phép minh bạch có thể vừa bảo vệ chủ thể sáng tạo, vừa giúp doanh nghiệp Việt phát triển những công cụ AI “hiểu” văn hóa Việt.

(Ảnh: Midjourney)

(Ảnh: Midjourney)

Thế giới đang làm gì?

Mỗi quốc gia lựa chọn một cách tiếp cận khác nhau, nhưng có điểm chung là đều tìm cách gọi tên hành vi mô phỏng khi chưa được phép.

Tại Mỹ, bang Tennessee, nơi có thủ phủ âm nhạc đồng quê Nashville, đã ban hành Đạo luật ELVIS, có hiệu lực từ ngày 1/7/2024. Đạo luật mở rộng quyền đối với tên, hình ảnh của cá nhân sang cả giọng nói, dù là giọng thật hay giọng được mô phỏng. Đáng chú ý, đạo luật quy định cả trách nhiệm đối với việc cung cấp công cụ, phần mềm có mục đích chính là tạo ra giọng nói, hình ảnh của một người cụ thể khi chưa được phép.

Tại Trung Quốc, tháng 4/2024, Tòa án Internet Bắc Kinh xét xử vụ việc một nghệ sĩ lồng tiếng có giọng nói bị dùng để tạo giọng AI mà không được phép. Tòa xác định lợi ích về giọng nói của cá nhân thuộc phạm vi quyền nhân thân và theo Tòa, giọng nói do trí tuệ nhân tạo tạo ra vẫn thuộc phạm vi bảo vệ quyền đối với giọng nói của người đó nếu âm sắc, ngữ điệu, phong cách giống đến mức công chúng có thể nhận ra đó là giọng của chính người này.

Tại châu Âu, Đan Mạch ngày 8/10/2026 đã giới thiệu dự luật sửa đổi Luật Bản quyền, cấm chia sẻ các bản mô phỏng như thật khuôn mặt, giọng nói của một người khi chưa có sự đồng ý, nhưng vẫn cho phép châm biếm, nhại lại, phê bình.

Từ các kinh nghiệm này, có thể thấy hai điều. Một là, quyền bảo lưu chỉ có ý nghĩa khi có hạ tầng để công bố và tra cứu. Hai là, bảo vệ giọng nói có thể đi theo con đường quyền nhân thân hoặc quyền gần với quyền tác giả, nhưng luôn cần những ngoại lệ hợp lý để không cản trở tự do biểu đạt. Việt Nam có thể lựa chọn cách phù hợp với hệ thống pháp luật của mình.

Một số gợi mở

Từ những phân tích trên, có thể gợi mở một số hướng để quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật cân nhắc, nhằm giúp Luật Phát triển công nghiệp văn hóa thực sự trở thành “cầu nối thực thi” giữa các quy định đã có và đời sống sáng tạo.

Một là, gọi tên rõ hơn các hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến AI, gồm sử dụng trái phép tác phẩm để huấn luyện AI và dùng AI mô phỏng giọng nói, hình ảnh, phong cách sáng tạo để khai thác thương mại khi chưa được phép, kèm những ngoại lệ hợp lý như nhại lại, châm biếm, phê bình.

Hai là, mở rộng chức năng của nền tảng số hỗ trợ quyền sở hữu trí tuệ, để nền tảng trở thành nơi tác giả công bố việc bảo lưu quyền ở dạng máy đọc được và khai báo mức độ sử dụng AI. Giá trị chứng cứ của nhật ký sáng tạo cũng đáng được làm rõ. Đi kèm là nguyên tắc dữ liệu người dùng cung cấp trên nền tảng không bị khai thác để huấn luyện AI khi chưa có căn cứ pháp lý. Nếu “mức cơ bản” được Nhà nước cung cấp miễn phí bao gồm những chức năng này, người sáng tạo độc lập sẽ có thêm công cụ để thực hiện quyền của mình.

Ba là, giải thích rõ khái niệm “dữ liệu văn hóa số” và xác lập nguyên tắc phân loại, khai thác Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia. Với dữ liệu khai thác cho mục đích thương mại, nhất là dữ liệu di sản, tri thức dân gian, cơ chế cấp phép và chia sẻ lợi ích với cộng đồng là điều đáng được tính đến. Luật có thể xác định những nội dung này ở mức nguyên tắc để Chính phủ quy định chi tiết.

Công nghệ sẽ còn tiếp tục thay đổi nhanh hơn quy định pháp luật. Điều quan trọng không phải là ngăn cản hay chạy theo AI, mà là giữ cho con người, với tài năng, bản sắc và quyền chính đáng của mình ở vị trí trung tâm. Khi người nghệ sĩ yên tâm rằng giọng hát, nét vẽ, câu chữ của mình được bảo vệ bằng những công cụ cụ thể, họ mới có thể toàn tâm sáng tạo, góp phần đưa văn hóa thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia như tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW.

NGUYỄN SƠN(Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)
Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn
Cùng chuyên mục