Ðam mê làm phim
Đang học năm thứ 2 chuyên ngành Thiết kế thời trang của Viện ĐH Mở thì Đồng bỏ giữa chừng và quyết định thi vào trường ĐH Sân khấu điện ảnh, chuyên ngành đạo diễn điện ảnh. Khi học trong trường, hắn được học cách làm phim truyện. Đến khi về kênh VTC14, công việc của hắn lại là làm phim tài liệu. Đó là một bước chuyển tiếp khó khăn, bắt buộc hắn phải tự làm tự học hỏi. Thời gian đầu những tác phẩm của hắn bị đánh giá là mang tính “điện ảnh” nhiều quá.
Hắn vẫn còn nhớ bộ phim tài liệu đầu tay của mình cho chương trình Cuộc sống thay đổi. Một bộ phim về sự thay đổi trong quan niệm làm đẹp của người phụ nữ xưa và nay. Do ảnh hưởng của tư duy điện ảnh, Ngọc Đồng đã dàn dựng hai diễn viên vào vai mẹ con. Trong quá trình làm, hắn cũng đã cố kìm cái sự “kịch” trong phim nhưng cuối cùng tác phẩm vẫn rất gượng gạo. Rút kinh nghiệm từ lần đó, những bộ phim sau này hắn không dùng diễn viên nữa mà chọn người thật với những câu chuyện thật gắn với đề tài của phim. Được sự giúp đỡ của lãnh đạo và những đồng nghiệp trẻ ở kênh, hắn đã khá lên rất nhiều, ít nhất là cũng không đi lại “vết xe đổ” đầu tiên nữa.
Trong quá trình làm chương trình, Ngọc Đồng hay xoáy sâu vào sự thay đổi của con người, của sự giao thoa văn hóa, sự phát triển kinh tế và mặt trái của cơ chế thị trường. Những bộ phim của hắn luôn có những cung bậc tình cảm rõ ràng. Với hắn, sự thay đổi cuộc sống chính là sự thay đổi về cảm xúc, tình cảm của con người.

Làm chương trình Cuộc sống thay đổi, cái khó khăn nhất là tìm được những tư liệu cũ từ ngày xưa để tái hiện sự đối lập với cuộc sống hiện nay. Như có lần làm về nếp sống tam tứ đại đồng đường của người xưa, ê-kip của Ngọc Đồng bắt buộc phải dàn dựng và chụp lại những tấm hình mà một số gia đình còn giữ được.
Sau này, khi chương trình đổi tên sang Góc nhìn cuộc sống, đề tài rộng hơn nhưng đó cũng là thử thách lớn cho Đồng khi phải đi tìm những góc nhìn mới từ những đề tài đã cũ. Mỗi tháng đảm nhận 2 số chương trình, công việc cứ cuốn hắn theo những chuyến đi và những thước phim tài liệu. Mục tiêu mà hắn hướng tới là những bộ phim ít lời bình. Hắn tham vọng sẽ ngày càng làm mới chương trình hơn, tiết tấu nhanh và hiện đại hơn, vượt xa những khái niệm về phim tài liệu chính thống.
Nói về nghiệp làm phim của mình, hắn kể lại bài thi tốt nghiệp của mình về đề tài đồng tính nữ. Với kịch bản tốt, đề tài tốt, quy trình sản xuất hợp lý, bộ phim của hắn đã nhận được sự tài trợ của điện ảnh Na-uy. Tác phẩm của hắn được 9,5 điểm. Chưa phải là đỉnh tuyệt đối nhưng với hắn con số 9,5 thật tròn trịa, đủ để hắn tin vào những gì mình đang làm. Hồi mới ra trường, hắn cũng từng có thời gian đi làm trợ lý đạo diễn cho đoàn phim Huyền sử Thiên đô. Chẳng ai đánh thuế ước mơ, vậy nên Ngọc Đồng vẫn nuôi dưỡng mơ ước một ngày nào đó có thể tự tay làm một bộ phim điện ảnh thực sự, của riêng mình. Cũng tự nhận mình hơi tham lam, tuy nhiên, con đường mà gã trai xứ Thanh xác định sẽ theo đuổi lâu dài vẫn là gắn bó với công việc truyền hình.
“Ông đồ” thời @
Ngọc Đồng sinh ra ở vùng quê nghèo Hải Ninh (Tĩnh Gia, Thanh Hóa). Từ nhỏ, Đồng đã quen với cảnh ngư dân làm ăn ở cửa biển đầu sóng, ngọn gió. Những cảnh sinh hoạt đó luôn để lại ấn tượng trong trí óc Đồng. Với lòng yêu thích vẽ, từ nhỏ Đồng luôn tự tìm tòi cầm bút vẽ cảnh sinh hoạt của người dân xóm chài ở quê hương. Ngày ngày đi học, cuối tuần, Đồng lại lều chõng đi vẽ, đi sinh hoạt câu lạc bộ những người yêu thích thư pháp.
Ngày Đồng quyết định bỏ học thiết kế thời trang giữa chừng để chuyển sang điện ảnh, mọi người cũng có ý kiến này nọ nhưng rồi cả nhà vẫn quyết định cho Đồng đi học. Hắn hỉ hửng lắm. Nhưng có nằm mơ hắn cũng không ngờ học điện ảnh lại… tốn kém đến thế. Hàng năm, hắn phải trả bài cuối năm bằng một bộ phim và kinh phí làm phim đều tự tay sinh viên bỏ ra. Ngoài ra còn có các dự án trong quá trình học, các bài tập thực hành, bài tập giữa kỳ… đã ngốn đi của hắn một khoản tiền khổng lồ. Đôi khi kinh phí bỏ ra cho một bộ phim cuối kỳ của trường hắn bằng cả 8 năm ăn học của sinh viên trường khác.
Không lẽ lại ngửa tay xin tiền bố mẹ. Hắn quyết định kê cái chõng ở chợ đêm sinh viên Dịch Vọng và tối nào cũng ra ngồi viết thư pháp, vừa bán chữ vừa tặng chữ. Nó trở thành nguồn thu nhập chính nuôi hắn ăn học những năm ở trường sân khấu điện ảnh.
Mỗi người đến mua chữ của Đồng đều mang theo một câu chuyện hấp dẫn không kém những trang sách viết về cuộc đời. Có người gặp Đồng chỉ nhờ viết mỗi một chữ, nhưng đó là tất cả những gì họ thấy tâm đắc nhất. “Ông đồ” trẻ kể lại, có lần, một thanh niên tuổi cũng chỉ bằng Đồng, người này lúc đến mua chữ tỏ ra rất thất vọng, cô quạnh. Anh ta kể lại cuộc đời mình, từng nghiện hút, đã cai nghiện được một thời gian và muốn xin chữ nào đó để mỗi lần đọc, anh tự răn dạy mình không đi theo con đường nghiện hút đó nữa. Đồng nghe xong liền đặt bút trên nền giấy in mờ hình măng tre đang vươn lên đầy sức sống câu hát của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn “Tôi ơi đừng tuyệt vọng”.
Viết xong, Đồng đề tặng người bạn bị nghiện đó và không lấy tiền. Người thanh niên cố công xin trả tiền và tỏ ra rất ngại ngần. Đồng liền đặt bút viết bức thứ hai: “Đừng cúi xuống khi đời thử thách. Hãy nhìn lên hạnh phúc ở trên trời”. Bức này thì Đồng lấy tiền để làm vừa lòng người đang muốn cố gắng vươn lên.

Bên cạnh viết thư pháp để kiếm thêm thu nhập trang trải cho quá trình học tập, Đồng luôn mong muốn lưu giữ viết thư pháp như một thú chơi riêng của mình. Khi làm phim về sự thay đổi giữa nền thư pháp Việt Nam, chuyển từ thư pháp Hán Nôm sang thư pháp chữ quốc ngữ, Đồng và một người bạn của mình đã trở thành nhân vật chính của phim. Một nửa bộ phim này được hắn chủ động quay bằng điện thoại di động trong những ngày không có lịch máy.
Theo đuổi thư pháp đã 7 năm, cứ Tết đến Xuân về, đến hẹn lại lên, Đồng lại hồ hởi ra Văn Miếu viết chữ. Hắn cười bảo vui lắm, sau một năm chờ đợi, các anh đồ, ông đồ lại mang bút nghiên ra khua không khác gì những anh hùng lương sơn bạc hẹn nhau tụ hội. Ngoài thư pháp ra, thỉnh thoảng Đồng cũng vẽ tranh thủy mặc vì thể loại tranh này thường gắn với thư pháp.
Một bí mật rất thú vị mà không nói ra có lẽ chẳng ai ngờ tới, đấy là Đồng rất giỏi trong khoản… may vá. Bố làm thầy thuốc, mẹ làm nghề may, hắn được mẹ dạy cho biết may từ bé, ước mơ được học thiết kế thời trang cũng được định hình từ thuở ấy. Bản thân hắn từ hồi cấp 2 đã tự biết may quần áo cho mình, vậy nên với lũ trẻ con ở trường hay trong xóm, hắn luôn là người… có nhiều quần áo mới nhất. Cứ tấm vải nào đẹp thì hắn lại tự cắt và may. Mãi sau này khi bị bạn bè trêu nhiều quá, rằng con trai gì mà suốt ngày đính khuy thùa khuyết cho mẹ, nên hắn mới nản dần và quyết định chỉ liên quan đến “giấc mơ may vá” bằng cách đi học thiết kế thời trang.
Giờ thì hiển nhiên là mỗi tháng hắn đã có thể gửi một ít tiền về cho bố mẹ. Nói gì thì nói, phụ huynh chính là những người động viên hắn lớn nhất trên bước đường nghề nghiệp. Mỗi lần xem ti vi có chương trình của con phát sóng, các cụ lại gọi điện thoại a lô cho hàng xóm cùng xem. Hắn vui vì đã làm cho bố mẹ vui. Hắn biết, gia đình hy vọng rất nhiều ở mình. Có một niềm tự hào nữa là cứ mỗi dịp Tết về, mọi người trong xã nườm nượp kéo đến nhà hắn xin chữ rất nhiều. Và họ luôn thân mật gọi hắn với hai tiếng “ông đồ”…
Y Bình

