![]() |
Những năm 1960 - 1961, xã tôi là nơi huấn luyện tân binh. Tình yêu giữa cô giáo làng 19 tuổi và anh chiến sỹ quân y hơn mình 9 tuổi nảy nở ngày một sâu sắc. Chưa kịp cưới thì anh nhận nhiệm vụ đột xuất đi phục vụ chiến trường. Giọt máu của anh trong chị ngày một lớn. Họ hàng bắt chị quỳ xuống nhận những lời chua chát. Đau khổ lắm, nhưng bộ quần áo, kỷ vật duy nhất của anh động viên chị vượt qua sự tủi cực. Chiến tranh, anh đi và tin anh bằn bặt, năm 1962 chị tôi sinh Nguyễn Xuân Thanh trong sự dè bỉu của dân làng. Cháu càng lớn càng khôi ngô khoẻ mạnh và giống bố như đúc, lại được mẹ khéo dạy nên cháu hát hay múa dẻo. Năm 1965, khi cháu vừa được 3 tuổi trong lúc chị đang luyện cho các cháu tập múa hát để chào mừng Đại hội Đảng bộ xã thì nhận được tin anh hy sinh. Nén đau thương chị vẫn cầm lòng để cho các cháu tập hát. Ngày Đại hộicháu Thanh lên hát 3 bài liền, nhìn con ngây thơ hồn nhiên hát múa chị càng thương con, thương anh, thương cho số phận mình. Khi cháu được 10 tuổi chị thấy cần có người đàn ông để bảo ban cháu nên chị đồng ý xây dựng gia đình với một người đàn ông trung niên quê ở vùng Đất tổ. Trớ trêu thay, sau khi sinhcháu Thanh chị bị vô sinh thứ phát. Đau xót khi bố cháu Thanh hy sinh, chị lại càng buồn khi mình không còn khả năng duy trì được nòi giống cho gia đình nhà chồng. Cuộc sống nặng nề, chị như người mắc lỗi.
Cháu Nguyễn Xuân Thanh lớn lên đúng vào giai đoạn xảy ra cuộc chiến tranh biên giới. Đang học lớp 9 trường Cấp III Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên thì cháu được lệnh đi bộ đội thuộc Bộ tư lệnh biên phòng. Như bao người mẹ khác chị tiễn con lên đường, động viên con gan sắt chí bền, hoàn thành nghĩa vụ vẻ vang rồi trở về với mẹ. Khi được biết cháu đang đóng quân ở Cầu Giấy Hà Nội và và chuẩn bị đi công tác xa. Chị tức tốc xuống ngay Hà Nội và được các đồng chí trong đơn vị cho cùng đi bên cạnh cháu hành quân từ Cầu Giấy ra ga Hàng Cỏ. Đơn vị cháu đi xuôi vào phía Nam còn chị lên tàu ngược về Thái Nguyên. Chị không ngờ đấy lại là lần cuối cùng mẹ con chị gặp nhau. Trước khi đi cháu đưa lại cho chị 1 gói quà, về đến nhà chị mới mở ra thì thấy một bộ quần áo bộ đội và 5 ngàn đồng (đúng như của bố nó năm xa) sự trùng hợp đến kỳ lạ khiến chị vội xua đuổi không dám lý giải không dám nghĩ đến...

Thời gian trôi đi, những lá thư thưa dần. Năm 1981, chị nhận được tin cháu hy sinh tại Campuchia thuộc Trung đoàn 686 sư 339 Quân đoàn 4. Trời đất tối tăm đổ xụp duới chân chị. Tuy vậy, tin cháu hy sinh là do anh em trong đơn vị báo miệng còn giấy báo tử chưa về đến địa phương nên chị chỉ thương vụng khóc thầm. Mỗi bữa ăn cơm chị lại đơm một bát để ra cạnh mâm ngầm cúng con và nói khéo với cả nhà: “Bây giờ tôi lại chỉ thích ăn cơm nguội”. Mãi đến khi có giấy báo tử của cháu Nguyễn Xuân Thanh về địa phương các đoàn thể chính quyền mới đến thăm hỏi, chia buồn,động viên.
Suy xụp mãi rồi chị tôi cũng dần gượng dậy. Vốn là người nhân hậu, chị nén lòng bàn với anh đi hỏi vợ cho chồng. Khi biết chị có ý tưởng này, cả thôn ai cũng nghĩ như chuyện đùa. Rồi một ngày kia đám cưới của chồng chị với chị Hai được tổ chức gọn nhẹ đúng nghi thức. Lúc đầu chị ở một gian trong ngôi nhà 5 gian nhường buồng cho đôi vợ chồng mới. Sau dần thấy bất tiện chị làm tạm một gian nhà sang bên cạnh. Trời xui đất khiến thế nào, trong khi mấy năm chị không sinh được cháu nào thì dì hai lại đẻ liền 4 năm 4 đứa. Cái gia đình trầm lắng năm xa bây giờ suốt ngày ồn ào tiếng trẻ cộng với sự túng thiếu, chị tình nguyện đón con chồng về nuôi và chăm bẵm hết đứa này đến đứa khác. Có lúc buồn nhớ con, âm duơng cách biệt chị đi tìm thầy gọi hồn cho cháu Thanh. Một lần tôi về quê chị gọi tôi lại gần và nói nhỏ: “Này, dì Thuỷ ạ! hôm nọ tôi đi gọi hồn cho cháu Thanh không biết thật hư thế nào nhưng cháu cứ ứng khẩu lên mà nói rằng: “Mẹ đừng lo cho con, số phận con chỉ đến đấy, con đi rồi con sẽ đưa người về hầu hạ mẹ”. Tôi nói: “Chị ăn ở phúc hậu thế các cháu nhà dì hai nó chăm chị suốt đấy thôi”.

Đợt phong danh hiệu “Bà mẹ Việt nam anh hùng” ngày 24-4-1995 cả Tỉnh Thái Nguyên có 26 mẹ, Huyện Phổ Yên có 2 người trong đó có chị tôi: (mẹ Lê Thị Thái) . Sau khi được phong tặng danh hiệu: “Bà mẹ Việt nam anh hùng”, mấy xe ô tô con nối đuôi nhau về đỗ ở đầu cổng nhà chị, tiếng nói tiếng cười tiếng hỏi thăm sôi động cả khu xóm nhỏ. Hôm nào có xe về đón đi họp tỉnh chị tôi mặc quần nhung, áo len, khăn len mới, trông chị phúc hậu bề thế, nghĩ mà thương cho những ngày ủ dột năm xa. Chị được Công ty nông sản thực phẩm của tỉnh đỡ đầu mỗi tháng 150.000 đồng, số tiền phụng dưỡng chẳng đáng là bao. Được 3 năm thì công ty gặp khó khăn và chuyển cho Sở Giao thông vận tải Tỉnh Thái Nguyên đỡ đầu ... Có chút tiền nong chị bù trì nuôi con chồng hết đứa này đến đứa khác. Các cháu mỗi ngày mỗi lớn, tiền học văn hoá, học nghề ngày càng cao. Căn nhà nhỏ nơi đặt giá gỗ làm bàn thờ cho cháu Nguyễn Xuân Thanh bị xuống cấp, mưa dột loang lổ hết cả bằng khen. Thấy vậy, huyện và chính quyền địa phương đã hỗ trợ tiền cho chị sửa chữa nhà. Nhà xây xong, dù được bà con trong họ, ngoài làng giúp thêm chị vẫn còn nợ hơn chục triệu đồng.

Có ai biết được có ngày hôm nay, chị tôi đã mất bao nhiêu nuíc mắt, vì tủi nhục và đơn chiếc. Năm nay chị tôi, người mẹ ấy đã ngoài 70 tuổi, chị vẫn nhiệt tình tham gia công tác hội người cao tuổi của thôn. Vừa qua tôi xuống thăm chị, chị bảo: “Nợ thì trả dần, chị mừng nhất là mới sắm được chiếc tủ thờ cháu, mấy chục năm qua chị vẫn đặt bát nhang của cháu trên cái tủ đựng thóc đấy”. Bóng chiều đã ngả về tây, khi tôi ngỏ ý viết về chị, giọng chị trầm hẳn xuống: “Thôi, viết làm gì em, cuộc đời chị ngọt bùi thì ít đắng cay thì nhiều ấy mà”. Dẫu thế tôi vẫn xin mạn phép chị để viết những dòng này, mừng cho điều mong ước của chị đã trở thành hiện thực.
Không hiểu sao đến tận bây giờ, tôi vẫn cứ hình dung ra một cô giáo dạymẫu giáo ởquê nhà (Xã Trại Cang, Huyện Phổ Yên Tỉnh Thái Nguyên). Người mẹ Việt Nam anh hùng bình dị và cả đời người đau khổ ấy ở ngay bên cạnh tôi. Có khi điển hình chẳng cần phải tìm kiếm. Nếu người làm báo chỉ chịu khó quan sát, thì điển hình có ngay bên cạnh mình vậy.
Đỗ Thị Bích Thuỷ


