Năm 1993 tôi sang Cộng hòa Liên bang Đức tham dự một khóa tu nghiệp Tin tức và Thời sự tại Trung tâm Đào tạo Truyền thông quốc tế Deusch Welle tại thành phố Cologne. Nhập cảnh vào phi trường quốc tế Frankfurt, người cán bộ an ninh Đức ngắm tôi từ đầu tới chân, yêu cầu rất lịch sự: “- Ông làm ơn cho xem vé về!”. Xem xong anh ta cười cười nói: “- Chúc ông có những tháng vui vẻ ở đất nước chúng tôi!” Tôi hiểu. Đã có nhiều người Việt sang các quốc gia châu Âu và ở lại bằng con đường du lịch.

Tại khóa học, tin tức và thời sự quốc tế được tải xuống cho các nhà báo học viên khai thác làm chương trình có khá nhiều tin bài đề cập tới Việt Nam. Một lần có một tin của Reuters đưa: Các quốc gia Cộng đồng châu Âu (EC) nhóm họp tại Brucell (Bỉ) bàn thảo việc tài trợ cho Việt Nam tái thiết đất nước. Tôi soạn ngay tin này và viết luôn phóng sự “Hà Nội thời mở cửa”, để thế giới hiểu rằng Việt Nam đang nỗ lực vượt qua gánh nặng hậu quả chiến tranh đè lên đôi vai gày, cộng thêm sự trì trệ của một nền kinh tế bao cấp và duy ý chí. Chính phủ đã vạch ra một chương trình cải cách kinh tế theo đó lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được xác lập lại phù hợp với kinh tế thị trường. Các nguồn vốn từ WB, ODA, từ các chính phủ và các nhà đầu tư đổ vào Hà Nội đã và đang hoạt động có hiệu quả. Các nhà báo học viên xôn xao. Có lẽ vấn đề “mở cửa” ở một đất nước vốn “đóng kín cửa” có giá trị thời sự đắt giá. Trong một chương trình thời sự khác tôi tải và soạn một tin của BBC về Hội nghị quốc tế tại Paris bàn thảo việc tài trợ cho Việt Nam giúp đồng bào hồi hương tái hòa nhập cộng đồng. Tôi viết luôn phóng sự “Thuyền nhân Việt Nam hồi hương”. Thuyền nhân Việt Nam đang là thời sự trên báo chí thế giới hằng ngày. Tư liệu rất “tươi” rất “nóng” mà tôi, một tháng trước đã cùng các đồng nghiệp trong nước tới miền Trung truyền thông cho “Chương trình EC quốc tế (ECIP) tái hòa nhập người Việt Nam hồi hương” do Cộng đồng châu Âu tài trợ. Chương trình này tập trung ở các xã ven biển Đà Nẵng. Tanny, một nhà báo trẻ của Philippines nhận dẫn đọc giúp tôi cả hai phóng sự. Bởi anh có chất giọng đanh mạnh như “Người của CNN” trong các bản tin - thời sự trên “CNN TV”.
Vào một buổi sáng, trong 20 phút giải lao giữa hai tiết học, nơi hành lang, ngồi uống café cùng các nhà báo Á- Phi khác, Tanny hỏi:
- Chiến tranh, Bảo có đi lính không?
Có lẽ sĩ diện muốn để bạn nể phục, tôi buột miệng:
- Có!
Bất ngờ, Tanny nói to đủ cho mọi người nghe:
- Vậy là cậu từng giết người!
Mọi người trố mắt nhìn tôi xác định tin động trời ấy.
Ôi Tanny! Tôi không trách vì đất nước Philippines không có chiến tranh ái quốc. Vì đất nước anh là thành viên Khối ASEAN mà một trong những tôn chỉ của khối này lúc bấy giờ có chống cộng. Tôi nói lại với mọi người:
- Ở đất nước tôi có câu thành ngữ “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, huống chi tôi là nam nhi, là người lính.
Tanny bắt tay tôi xin lỗi. Rằng anh nói đùa.
Cho tới một ngày đến tham quan Bảo tàng Karl Marx ở tỉnh Triet, mới có thời gian tâm sự . Để hiểu nhau mặc dù ý thức hệ còn khác biệt nhau.
Thực ra tôi không được làm nghĩa vụ quân sự, diện miễn hoãn vì nhà con một, nhưng lại gần gũi với cuộc sống người lính không ở nơi chiến trường tiền tuyến mà là ở hậu phương. Tất thảy ký ức, với tôi, ký ức chiến tranh không nhiều nhưng lại lâu bền nhất, có lẽ vì nó lưu lại cái khoảnh khắc, cái thời đoạn có thể được hoặc mất, thắng hoặc thua, giữa cái sống và cái chết. Động đến là rung lên ngân vọng như tiếng đàn bầu lúc thả trùng lúc cương dây. Cảm giác nhoi nhói khi tiếng lẫy gẩy dồn không phải hoan ca mà là tức tưởi.

Khởi đầu Chiến dịch Tổng tiến công Mặt trận Tây nguyên. Tôi được giao phụ trách biên tập Bản tin chiến sự miền Nam. Phương tiện tác nghiệp đâu hiện đại như bây giờ. Chiếc đài Mẫu Đơn cộng Bản tin Việt Nam Thông tấn xã truyền dẫn qua đường teletip cho tôi tư liệu, nhất là tháng trong Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn. Như có tiếng súng trận ròn khô dội lên từ những con chữ mổ vào dây ru-băng máy đánh chữ. Quanh phòng làm việc Ban Thư ký Tòa soạn như phảng phất mùi khói bom. Từ bản thảo - xếp chữ chì - chữa mo-rat - máy chạy lô in báo xình xịch nơi nhà in… hối hả chẳng khác mấy không khí thần tốc nơi chiến trường.
Năm ấy, từ Chiến khu Giải phóng miền Nam ra Bắc, nhà báo Thép Mới kể chuyện chiến sự trong đó đầy ắp sự kiện như ông gùi được chúng nặng đầy hai vai. Nhưng tôi nhớ nhất lại là chuyện về nhà báo Úc nổi tiếng Wilfred Burchet. Làm việc khuya, Burchet đói, muốn ăn, mà lại là ăn phở. Tưởng nói chơi chơi nào ngờ nửa giờ sau người cần vụ chạy Honda đã xách về cho ông một cặp lồng phở bò nóng hổi thơm lừng. Vỡ lẽ, hóa ra ông đang ở rất gần Sài Gòn. Ông cười hô hô nói với Thép Mới: “Vậy là sắp kết thúc rồi!” Vợ anh Thép Mới là chị Cung Kim Châu. Sau 15 giây ngỡ ngàng bỗng chị nhớ ra mừng vui kêu to: “- Chào Chú Chích! Nay tôi đồng nghiệp với Chú Chích đấy!” . Tôi cười vang: “- Từ chiến trường ra mà vẫn tiểu thư như xưa!” Tôi và chị Châu có hơn một năm làm việc cùng nhau ở Viện Thiết kế Thủy lợi và Thủy điện. Hồi ấy tôi bé nhỏ nhất, cả phòng đặt biệt danh “Chú Chích”. Chị xinh đẹp thuộc dòng quý tộc. Một lần họp chi đoàn thanh niên chị xin phép nghỉ với lý do thản nhiên phải về cho con mèo tam thể ăn. Mất tích ba ngày. Mở liền ba hộp thịt khao nó. Đồng nghiệp cảm thông với “Tiểu thư” vì anh chị chưa có bé. Mà anh đi công tác suốt phần lớn đi cùng các nhà báo nổi tiếng nước ngoài tới tấp đến Việt Nam viết về chiến tranh. Anh Thép Mới đi “B” chị theo anh luôn vào trong đó làm… báo. “- Có hay đi mặt trận không?” Chị khúc khich cười: “- Chủ yếu làm Thư ký báo chí cho Đặc phái viên Thép Mới!” Chịkể nhiều chuyện ở chiến trường “B” nhưng từ bên lề Tuyên huấn Trung ương cục. Những bút ký chính luận hào hùng về Nguyễn Văn Trỗi, Lê Quang Vịnh, Nguyễn Thái Bình của Thép Mới là khơi nguồn cảm hứng từ nơi này.
Giải phóng Sài Gòn tôi là người đến muộn. Nhưng lòng thì đã đến theo cái cách tư duy của nhà văn Lý Biên Cương trong bài thơ “Cột cây số ven đường thợ mỏ”, với câu “Hòn Gai - Bà Rịa 1825 cây số / Mỗi buổi sáng đi ca / Người thợ lò / Thấy Bà Rịa gần lắm”. Khen ai đã có sáng kiến trên các cột cây số ven đường quốc lộ, tỉnh lộ suốt hành trình miền Bắc đất nước, phía dưới hàng chữ ghi địa danh cột cây số ấy, là số cây số khoảng cách với tên địa danh tỉnh miền Nam kết nghĩa, ai trông vào cũng cảm nhận tỉnh kết nghĩa miền Nam thân thương gần lắm, rất gần.
Vào Sài Gòn tôi ở Nhà khách của Thành ủy. Một buổi chiều muộn điện thoại reo. “- Chú Bảo đấy phải không? Chú có khách dưới phòng thường trực. Chú xuống ngay nghen. Tuy nhiên chú đừng quá dội dã kẻo té cầu thang khổ chú cháu mình nghen!” Ôi. Ngọt ngào làm sao! Người khách ấy là Bùi Qúy Linh bạn tôi. Anh là người viết kịch, vào Sài Gòn làm cơ quan đại diện Tạp chí Sân khấu ở phía Nam. Bùi Qúy Linh là một trong số bạn bè quen biết trong giới văn nghệ “đi B” sớm trước khi có chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn. Phần lớn còn sống. Phân nhỏ hy sinh. Nghiêm Đa Văn viết câu thơ tức tưởi cho Ca Lê Hiến: “Nhớ lắm Hiến ơi / Tao muốn làm trận mưa nuôi con suối chảy / Hiến ơi uống ngụm mát lòng!”

Vợ Bùi Qúy Linh hỏi tôi cảm tưởng Sài Gòn. Cảm tưởng của tôi là “Con gái Sài Gòn nết ngoan hiền dịu ngọt, ví như em gái ở Nhà khách Thành ủy ấy”. Chị sung sướng ra mặt. Bùi Qúy Linh bĩu môi không đơn giản thế, là phải có điều kiện. Anh ví dụ, khi mang thai 4 tháng tối thiểu phải có hai bộ đồ mặc trong nhà kiểu mang thai 4 tháng. Và hai bộ đồ mặc khi ra đường kiểu mang thai 4 tháng. Sáu tháng, cũng hai bộ đồ trong nhà cộng hai bộ đồ ra đường kiểu sáu tháng. Tám tháng cũng y chang. Chứ con gái ngoài Bắc chúng mình mặc áo chiết bốn ly nơi vòng hai gọi là “sanh-tê”. Khi mang thai thì lấy lưỡi lam chích chỉ may cho bốn cái ly chiết ấy bung ra. Sinh bé xong lại khâu chiết chúng trở lại “sanh-tê”.
Lâu lắm mới có một trận cười thoải mái ở Sài Gòn.
Sau 30 tháng Tư tâm trạng người Sài Gòn đầy hỗn tạp. Có gia đình vui vì ngày họp mặt lịch sử với người thân từ bưng biền trở về. Những gia đình có người tham gia ngụy quân ngụy quyền Sài Gòn thì lo lắng trả thù, tắm máu. Mà ở Sài Gòn gia đình nào cũng dính cả vì con trai lớn phải làm quân dịch. Mà đi lính là có lương Mỹ trả nuôi được cả nhà. Chỉ có điều có tàn ác không. Số còn lại là các nhà buôn, tiểu thương thì ngóng đợi cuộc sống mới liệu có đem lại không khí dễ thở. Không thể trách. Một xã hội sống bằng viện trợ ngập đầu đâu dễ thích nghi. Bùi quý Linh cho hay người dân ở hạ lưu sông Cửu Long thường ngóng chờ mỗi tháng một lần kho quân nhu Mỹở thượng nguồn thay kho lấy hàng mới chúng đổ tất cả đồ cũ xuống sông người dân cứ đẩy ghe ngược dòng vớt cũng sống được dăm tháng. Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn gặp cảnh sống xa hoa nơi đô thành có chiến sĩ khi vào chiếm lĩnh các công sở đã xả súng AK nơi các văn phòng ngụy quyền như “trút giận” mà quên rằng đó là tài sản của chính quyền giải phóng. Tâm trạng ấy cũng dễ hiểu. Người dân, niềm tin và ngờ vực sống chung. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện kể lại một chuyện khá điển hình, có một chiếc xe đò đang đi bất chợt có một chiếc Honda táp vào mũi. Bác tài phanh độc. Phanh độc nên chết máy. Đề mãi không nổ. Làm sao đây? Có người bảo nhờ mấy thanh niên đang ngồi uống chè đá bên hè cùng đẩy giúp. Bác tài nói trông cậy đâu được vào bọn ấy. Vậy thì làm sao? Bác tài thở dài: “- Cố chờ xem có mấy chú Giải phóng đi qua sẽ nhờ”.
Bùi Qúy Linh đưa tôi bằng Honda trải nghiệm Sài Gòn với những địa điểm từng nóng lửa trong chiến dịch. Những nơi ấy, sự kiện ấy có sử liệu ghi chép. Tôi săn chi tiết nhỏ khó quên. Một ông già ở một xóm nghèo ven đô cười mà hai bụng má nhăn nheo: “- Mừng quá các chú à! Giải phóng rồi tôi không còn lo bọn trẻ mắc xì-ke ma túy nữa!” Thấy tôi xách túi đồ nghề làm phim khệ nệ, hai cháu trai nhỏ chạy theo nằng nặc đòi “Chú để con - chú để con!” Kết thúc trả tiền chúng đòi 50 ngàn. Trả, chúng cúi đầu “Đa tạ! Chú cho chúng con xin!” Bật cười tôi nói với Bùi Quý Linh: “Chúng cúi đầu xuống cái bụng to ra. Tôi ngẩng cao đầu cái bụng lép lại!”
Bùi QuýLinh giới thiệu với tôi hai cuốn tạp chí “Đối Diện” và “Đứng Dậy” của nhóm Nhà báo Linh mục Trần Tam Tỉnh, Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Nguyễn Hữu Lịch: “- Cậu xem lạ lắm. Sống giữa lòng Mỹ - ngụy mà dám “Đối Diện” rồi “Đứng Dậy”. Sài Gòn Giải phóng lại đổi thành “Đồng Dao”. Nghe danh mà chưa biết họ. Hai năm sau tôi mới được gặp nhóm Nhà báo Linh mục này ở Hà Nội. Để rồi sau đó tôi được đọc thiên phóng sự in phơi-ơ-tông nhiều kỳ trên Tạp chí Đồng Dao của Linh mục Nguyễn Ngọc Lan, quan sát rất lạ. Về “Hà Nội nghèo” thì: Hàng Đào không lụa Hàng Bạc không vàng, gặp ba cửa hàng đề “Ở đây nhận vá áo đi mưa” mà không có cửa hàng “Nhận dán áo đi mưa”; “Hà Nội không có gì thay đổi” thì: 25 năm trước Bác sĩ Trần Duy Hương làm Đô trưởng Thành phố. Giờ, Bác sĩ Trần Duy Hưng vẫn làm Chủ tịch Thành phố… Để cuối cùng ông viết câu: “Phong cách người Sài Gòn là nhịn mặc để ăn. Người Hà Nội lại nhịn ăn để mặc. Nhưng người Hà Nội đã phải nhịn cả ăn lẫn mặc để vì một thứ cao quý hơn rất nhiều đó là Tự do và Độc Lập!”
Tôi có người họ hàng ở Sài Gòn. Đến thăm, biết là sẽ phải đối mặt với tâm trạng của họ. Đó là người anh họ. Anh Triệu, đã từng đi kháng chiến ở Chiến khu Việt Bắc. Không hiểu sao Giải phóng Thủ đô về Hà Nội anh lại “theo Chúa” vào Nam. Có lẽ xuất phát từ lòng mộ đạo. Anh làm thủ thư ở thư viện. Tạm gọi là “ngụy quyền”. Sài Gòn được giải phóng, anh vẫn được giữ lại làm thủ thư. Vợ anh mở phòng nha khoa. Các con anh tới sáu đứa thì hai con trai đầu đã di tản qua Canada, còn bốn tiếp tục việc học. Học chuyên Anh để còn chờ… đi tiếp. Có vẻ khó khăn, nhà rộng trống trải, ngoài chiếc đàn piano không còn gì đáng giá. Có lẽ đã phải bán đi nhiều thứ để sinh sống. Được tin tôi từ Bắc vào vợ chồng người cô họ ở gần đó cũng sang chơi. Họ vui đấy nhưng cũng nhiều e ngại. Cô là một nhà buôn ở Đà Nẵng. Khi Chiến dịch giải phóng hết Tây Nguyên dốc xuống miền Trung thì cô quyết định bỏ của chạy lấy người vào Sài Gòn cắm sào. Của cải cô mang theo đủ dùng nhiều năm để nghe ngóng đợi chờ. Chú là thiếu tá quân đội nhưng làm công nghệ thông tin. Phải đi học tập một tháng mà cô gọi là “gội đầu” thôi chứ chưa tới mức “tẩy não”. Có lẽ mọi người muốn thăm dò tôi vì đối diện với họ là một nhà báo cộng sản. Cô làm một phép thử, nói: “- May thay nhà mình không có ai nợ máu!” Mẹ anh Triệu rú lên “- Giêsuma lạy Chúa con nói gì sợ thế!” Tôi cười: “- Nghe cô nói cháu cũng sợ”. Chồng cô cấu vào đùi cô: “- Nói năng ghê chết! Bao kẻ nợ máu đã phải tắm máu đâu?” Cô nói bâng quơ nhưng là để tôi nghe: “- Cứ để hai miền có hay không mà cứ phải giải phóng bằng được!” Chú nói: “- Thực ra nếu Mỹ và ông Diệm thực hiện đúng Hiệp định Genève thì đã có Tổng tuyển cử rồi”. Cô phát vào vai chú: “- Không uổng. Học tập có một tháng mà thông suốt ghê!” Tôi nói: “- Khi đang có Hội đàm ở Paris ông Thiệu sang Tòa Thánh Vatican đã nhờ Giáo hoàng Paul VI can thiệp như ý cô. Giáo hoàng có trao đổi với Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Người còn dùng tới thành ngữ “huynh đệ tương tàn”. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ thưa lại: “- Đây là cuộc chiến tranh ái quốc đánh Mỹ xâm lược. Thử hỏi có một quốc gia nào đó mang quân đánh chiếm Đất Thánh, Người sẽ làm gì?” Thấy mọi người lặng đi, tôi cười nói tiếp: “- Cô ơi! Kinh Phúc âm chẳng đã chép lời Chúa Giésus trả lời Trấn quan Philatô về đồng tiền của Vua César, rằng “Của César hãy trả về cho César” đó sao. Miền Nam là của Việt Nam mà!”

Cô chú và anh Triệu giữ tôi ăn bữa tối và nghỉ lại. Tôi dùng bữa tối nhưng từ chối ở lại qua đêm. Cô hỏi: “- Anh sợ liên quan ư?” “- Dạ không. Nếu sợ, cháu đã không tìm mãi phải hỏi cả công an mới tới được đây!”
Sài Gòn sau giải phóng, đời sống khó khăn. Không có gì lạ. Một xã hội tiêu thụ trong một thế giới hàng nhập ngoại phồn vinh giả tạo, đùng cái bị hẫng hụt. Chỉ nói tới xăng cho chạy xe gắn máy đã rúng động. Trong một cuộc gặp mặt các văn nghệ sĩ Sài Gòn, nhà văn hóa văn nghệ Trần Bạch Đằng chia sẻ, rằng chúng ta đang không có xăng chạy Honda. Ráng chịu. Trước đây, để có xăng, chính quyền ngụy Sài Gòn đã bán đất, bán vợ con em chúng ta đi làm đĩ điếm. Giờ, xin hỏi anh em có bằng lòng làm việc đó để có xăng chạy xe gắn máy không, câu trả lời sẽ là nghìn lần không.
Trong và sau Sài Gòn giải phóng người Việt di tản ra nước ngoài ồ ạt. Họ bí mật vượt biên bằng thuyền qua đường biển mà cộng đồng quốc tế gọi là làn sóng “Thuyền nhân Việt Nam”. Đi tìm miền đất hứa. Vậy mà khi hồi hương theo Chương trình EC quốc tế họ đã khóc vì được trở lại nơi chôn rau cắt rốn của mình. Và nhớ thương những người thân đã bỏ xác nơi biển cả vì đắm thuyền…
Một năm sau chia tay khóa học ở Deusch Welle, bỗng tôi nhận được điện thoại của Tanny, thật bất ngờ anh đang ở Hà Nội trong đoàn nhà báo ASEAN tháp tùng Thủ tướng Singapore Gochortton sang thăm Việt Nam. Gặp anh ở sảnh khách sạn, tôi dùng bàn tay làm giả chiếc súng lục, hằm hằm chĩa dúi vào ngực anh “Pàng pàng! Giết!” Anh rú lên: “- Thù dai thế! Lúc này mà còn địch - ta ư?” Chúng tôi ôm nhau tức tưởi giữa bè bạn mỉm cười.
Đã 37 năm đất nước thống nhất liền một dải. Đời sống nâng cao với nhiều đổi thay. Không còn Hà Nội nghèo. Hàng Đào là lụa Hàng Bạc là vàng. Người Hà Nội nay ăn sang và mặc rất đẹp. Các trạm xăng ê chề xăng. Xe gắn máy nhiều nhất thế giới. Các “Thuyền nhân” đã hồi hương. Người di tản bỗng thấy nhớ quê mẹ da diết. Mỗi năm dịp Tết hàng triệu người về thăm thân nhân. Nhiều người xin được định cư trở lại. Văn nghệ sĩ hải ngoại đua nhau về tổ chức live show hát cho đồng bào nghe. Nói những lời cảm kích. Tất cả đều được chào đón nồng hậu. “Một bàn tay thì đầy hai bàn tay thì vơi” mặc dù đã gần bốn thập kỷ ít ỏi gì.
Tôi nhớ, khi tâm sự cùng nhau ở khuôn viên Bảo tàng Karl Marx, Tanny xin lỗi tôi một lần nữa, nói anh rất tâm đắc câu tôi viết trong phóng sự mà anh xem như một triết luận: “Mỗi con người có ba thứ không được chối bỏ: Tổ Quốc - Cha Mẹ - Thời Đại Ta Đang Sống! Nếu không làm được gì cho nó tốt đẹp hơn, xin đừng phá hoại nó. Vì đó là công sức của bao người.”
Tùy bút của Khiếu Quang Bảo Ảnh: Isicaoa Bundo

