cua cấp đông có ngon không?lời 0đ vẫn bán, nhà hàng làm sao có lãinuôi cua tuần hoàn AI
Xuất bản ngày 26/09/2026 03:05 PM

Người lính đi qua sinh tử

(VTC News) -

Trải qua 2 cuộc chiến tranh vệ quốc, 2 lần thập tử nhất sinh trên chiến trường, nay ở tuổi 85, bố tôi ước sống thêm ít năm là "để thấy ngày Đảng ta tròn 100 tuổi”.

Bố tôi sinh năm 1941, là con trai cả trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng quê lúa Thái Bình (cũ). Cũng như đa phần nông dân thời Pháp thuộc không có ruộng vườn, tuổi thơ của ông là những ngày đói khát, phải nghỉ học để đi ở đợ giúp cha mẹ nuôi các em. Ông nội tôi mất sớm, từ đó bố thay ông gánh vác gia đình bằng chuỗi ngày lăn lộn mưu sinh giúp mẹ nuôi bốn người em, ngày đi làm thuê, đêm đi cất vó tôm.

Vào sinh ra tử với hai cuộc chiến

Năm 1962, bố tôi nhập ngũ lần đầu. Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, đầu năm 1966, ông tái ngũ và được cử đi học trường Hạ sĩ quan Pháo binh. Khi tốt nghiệp, ông về đơn vị pháo phòng không chủ lực, bảo vệ vùng trời Hà Tây và các công trình thủy lợi, giao thông trọng điểm dưới sự bắn phá điên cuồng của máy bay Mỹ.

Năm 1967, ông tham gia huấn luyện hai khóa tân binh ở Hòa Bình trước khi vào chiến trường Quảng Trị.

Giữa tháng 1/1968, sau 40 ngày đêm trèo đèo lội suối, đơn vị của bố tôi đặt chân lên mảnh đất Cam Lộ và sẵn sàng chiến đấu mở màn Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh. Lúc đó ông thuộc đại đội hỏa lực 12 (C12), Tiểu đoàn 9 (D9), Trung đoàn 64 (E64), Sư đoàn 320 (F320 - còn gọi là Sư đoàn Đồng Bằng).

Trung đoàn 64 đánh ở Cam Lộ - Gio Linh tỉnh Quảng Trị trong chiến dịch Đường 9 Khe Sanh từ tháng 1 đến tháng 10 năm 1968 rồi rút ra củng cố lực lượng ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Đó là những ngày chết chóc, bom B52 rải như gieo mạ, ngoài ra còn pháo bầy và chất độc hóa học…

Trong một trận đánh ở Cam Lộ, chưa kịp đào hầm thì máy bay Mỹ tới, bố tôi được một đồng đội cùng quê tên là Chỉnh kéo vào hầm tránh pháo cá nhân của chú ấy. Hai người chen chúc trong một căn hầm bé xíu, chỉ che được từ đầu đến bụng. Chú Chỉnh nói với bố: “Anh em mình giữ lấy cái gáo (cái đầu) với nửa trên, còn hai cái chân kệ nó”. Sau này, người đồng đội ấy bị thương và hy sinh ở trận Đường Ngang Kon Tum.

Nói đến chiến trường Quảng Trị, có lẽ ai trong chúng ta cũng ít nhiều hình dung đến sự khốc liệt của nó. Thời kỳ này thương vong của F320 cực kỳ lớn. Trận đánh cao điểm 105, cầu Thiện Xuân, chi khu Cam Lộ, bộ đội ta hy sinh mà không lấy được xác, bị xe tăng giặc cán rồi phơi thây nhiều ngày. Cho đến khi dân ở đó đấu tranh, Mỹ mới đem máy ủi chôn tập thể. Vậy mà đơn vị bố vẫn chiến đấu kiên cường, không nản chí. Tháng 4 năm 1968, ông là đại đội phó và đến cuối năm ấy được phong Thiếu úy.

Cũng ở chiến trường này, bố tôi bị sốt rét một trận thập tử nhất sinh. Đồng đội dìu ông qua sông Thạch Hãn về bờ Bắc, nằm viện hơn ba tháng trời. Lúc ra viện, nhìn ông rất thảm hại.

Khỏi bệnh, ông được chuyển sang đơn vị khác rồi tham gia chiến dịch Đường 9 Nam Lào. Khi đó, bố đã là đại đội trưởng của một đại đội hỏa lực thuộc Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 64.

Những ngày đầu xuân 1971 trên đất nước bạn Lào.

Những ngày đầu xuân 1971 trên đất nước bạn Lào.

Năm 1970, đơn vị ông sang nước bạn Lào, vừa làm đường vừa trinh sát để chuẩn bị cho chiến dịch. Đầu năm 1971, chiến dịch bắt đầu và thế trận thắng như chẻ tre. Trận này là niềm tự hào của toàn thể cán bộ chiến sĩ E64. Sau chiến thắng vang dội, cả đơn vị được khen thưởng và năm đó, bố tôi được phong quân hàm Trung úy.

Kết thúc chiến dịch Đường 9 Nam Lào, bố được lệnh trở ra Bắc lấy quân, huấn luyện để đến cuối năm 1971 lại cùng đồng đội hành quân xuyên rừng Trường Sơn vào mặt trận B3 (Tây Nguyên). Ở đây, bố tôi cùng đồng đội trải qua một mùa hè đỏ lửa (1972) với những trận đánh cực kỳ oanh liệt và cũng khốc liệt; như trận cao điểm 1015 và 1049, thương vong rất lớn. Địch dùng rất nhiều bom cháy.

Sau nhiều hy sinh, mất mát, F320 làm chủ được cao điểm 1015 và 1049. Ngày nay, cựu chiến binh F320 đã xây hai ngôi đền thờ liệt sĩ tại đây.

Trên mặt trận B3, bố tôi nhiều lần may mắn thoát chết. Đó là khi ông cùng đoàn cán bộ của Sư đoàn 320 đi tiền trạm để chuẩn bị cho chiến dịch Kon Tum. Vừa dừng chân tại trạm nghỉ để ăn trưa thì máy bay Mỹ kéo đến, 15 đồng đội bị trúng bom đạn, hy sinh tại chỗ, có người tan cả thân xác. Hộp cơm trên tay bố bị hất tung nhưng người lại không sao cả.

Hay trong trận đánh ở Đường Ngang Kon Tum, lần đầu tiên đơn vị của bố thất bại và tổn thất nặng nề. Trận địa pháo bị lộ. Địch gọi máy bay đến ném bom suốt từ khoảng 2 giờ chiều đến tối mịt. Bố nhảy từ hố bom này sang hố bom khác, vừa nhảy sang hố sau thì hố vừa đứng bị ném bom. Ba ngươi lính mới xuống chi viện bị trúng bom, hy sinh ngay tại chỗ. Trận này có B52 và là lần điều tiên đại đội pháo của bố có thương vong.

Cuối năm 1972, bố bị tái phát sốt rét, lại một trận thập tử nhất sinh. Ông bị phù nề, ốm suốt 6 tháng ròng. Sau trận ốm, sức khỏe của bố giảm sút nghiêm trọng, chỉ có thể đứng lớp dạy về pháo binh chứ không trực tiếp chiến đấu được nữa. Năm 1974, ông ra quân với chế độ mất sức.

Thế nhưng 5 năm sau, khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, bố tôi lại khoác ba lô lên vai, đi theo tiếng gọi của Chỉ thị số 429-CP về tăng cường cán bộ, Đảng viên cho các tỉnh biên giới phía Bắc, đến năm 1985 mới về.

Bao năm trời vào sinh ra tử, trải qua bao trận mưa bom bão đạn rồi sốt rét “mười phần chết một phần sống”, bố tôi may mắn trở về với thân thể vẹn nguyên. Hơn một lần, bố nói với anh em chúng tôi rằng ông biết ơn những đồng đội đã nằm lại chiến trường để ông được trở về, được sống trong hòa bình và có ngày hôm nay.

Những người hùng giữ kho báu ký ức

Bố tôi không phải là người giỏi ăn nói nên khá kiệm lời. Bố cực kỳ nghiêm khắc trong cách dạy dỗ con cái và cách ông dành tình yêu cho con cũng rất kín đáo, phải đến khi trưởng thành chúng tôi mới hiểu…

Hồi còn nhỏ, tôi chỉ thấy bố tôi vui và cười nhiều khi nhà có khách - những con người giản dị với chiếc áo bộ đội cũ kỹ và chiếc mũ cối sờn mép, bạc phếch màu tháng năm. Tôi thấy họ gọi bố tôi là thủ trưởng. Món quà các chú ấy mang đến khi là ít khoai lang, khi thì vài củ đậu hay cân lạc… và đặc biệt là những câu chuyện chiến trường dài như bất tận, say nồng như men rượu nếp mà họ có thể kể cho nhau nghe hết ngày này sang ngày khác.

Đó cũng chính là những bài học lịch sử Việt Nam đầu tiên chúng tôi được học; và họ là hình mẫu anh hùng mà chúng tôi liên tưởng đến khi đọc những tác phẩm văn học cách mạng sau này…

Cùng đồng đội năm xưa ôn lại những ngày khói lửa.

Cùng đồng đội năm xưa ôn lại những ngày khói lửa.

Thế hệ chúng tôi không trải qua chiến tranh nên cảm nhận về chiến tranh rất ít ỏi. Ban đầu, nó giống như những câu chuyện để đọc, để nghe, để ca tụng. Cho đến sau này khi trưởng thành, trong hành trình đi tìm thông tin về người chú liệt sĩ, xem phim tài liệu, đọc bản tin về các hố chôn liệt sĩ khai quật được và kết nối với những câu chuyện bố kể, tôi mới thật sự thấu hiểu lịch sử đau thương, hào hùng của dân tộc trong gần một thế kỷ chiến tranh.

Trở về với cuộc sống đời thường, bố tôi mang theo một số kỷ vật chiến trường và ký ức thời binh nghiệp chẳng bao giờ phai mờ. Ông nhớ rõ từng kỷ vật - chiếc bi đông đựng nước, la bàn, chiếc đài bán dẫn hay mảnh vải dù - gắn với từng trận đánh. Những bữa cơm tối, khi nhâm nhi chén rượu là lúc bố kể chuyện chiến trường.

Gần hai chục năm nay, sau khi tìm lại được nhau, các đồng đội còn sống sót của bố ở Đại đội 4 mỗi năm lại tổ chức gặp mặt ôn kỷ niệm chiến trường. Vị thủ trưởng của bố năm nào, giờ là Trung tướng, hiệu trưởng của một trường quân đội, vẫn hàng năm đến gặp mặt. Ông viết sách về những ngày khói lửa, tặng đồng đội. Các huynh đệ từ chiến trường xưa thường gọi ông một cách gần gũi và kính trọng là “thủ trưởng Tiến”.

Bố tôi - người lính Cụ Hồ - cả đời yêu Tổ quốc, yêu Đảng và luôn nặng lòng với đồng đội.

Bố tôi - người lính Cụ Hồ - cả đời yêu Tổ quốc, yêu Đảng và luôn nặng lòng với đồng đội.

Năm 2025, do một cơ duyên, con trai người đồng đội đã hy sinh của bố tôi biết ông là vị thủ trưởng đầu tiên, huấn luyện cho bố anh khi còn là tân binh. Anh mồ côi bố khi mới một tuổi và gia đình không có tấm ảnh nào của liệt sĩ. Ngay từ lần đầu nhìn thấy bố tôi qua video call, anh gọi ông là bố.

Còn bố tôi, mặc dù chỉ ở cùng đơn vị với người lính ấy vài tháng, sau gần sáu thập kỷ, với trí nhớ của tuổi 85, ông vẫn nhận ngay ra con của đồng đội và quay sang nói với chị em tôi rằng: “Nó giống bố nó quá!”.

Khi đến viếng mộ người lính ấy, bố tôi đã khóc thành tiếng - điều rất hiếm hoi ở ông.

Bố tôi được kết nạp Đảng từ thuở đôi mươi và luôn một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ. Các chương trình phát thanh hay truyền hình mà bố yêu thích đều là chương trình về quân đội, về Đảng và Bác. Lên Hà Nội chơi, bố cũng chỉ thích đi thăm lăng Bác, thăm Bảo tàng Quân đội và Bảo tàng Không quân.

Nguyện vọng sống lâu của bố tôi cũng gắn với tình yêu dành cho Đảng. Ông tâm sự vào năm 2025: “Chỉ mong sống được thêm 5 năm nữa để thấy ngày Đảng ta tròn 100 tuổi”.

Một lần, em gái tôi hỏi rằng bố muốn treo bằng Tổ quốc ghi công của chú Duyên (người em trai duy nhất của bố, hy sinh khi mới 23 tuổi) ở đâu, ông đáp: “Treo phía trên bàn thờ. Tổ quốc phải là trên hết con ạ. Tổ quốc ở trên cả tổ tiên, gia đình. Không có Tổ quốc thì gia đình còn đâu nữa”.

Hoa Lý – Minh Tâm
Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn