Cùng với đó, tỉnh Ninh Bình đang từng bước mở rộng không gian kinh tế biển gắn với các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển và hệ thống giao thông kết nối vùng.
Mở rộng không gian kinh tế biển
Kinh tế biển được Ninh Bình xác định là một trong những hướng phát triển quan trọng trong chiến lược tăng trưởng dài hạn.
Theo Kế hoạch số 170/KH-UBND ngày 20/5/2026 thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TU của Tỉnh ủy về chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tỉnh tập trung vào các nhóm nhiệm vụ như thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng, công nghiệp ven biển, thủy sản, bảo vệ môi trường, củng cố hệ thống đê biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển.
Theo định hướng này, kinh tế biển không chỉ dừng ở khai thác tài nguyên mà được đặt trong không gian phát triển tổng hợp, gắn công nghiệp, logistics, dịch vụ, thủy sản, du lịch với hệ thống hạ tầng ven biển.
Trong đó, Khu kinh tế Ninh Cơ được kỳ vọng trở thành một trong những không gian thu hút các dự án quy mô lớn. Cùng với hoàn thiện quy hoạch, tỉnh thúc đẩy đầu tư hạ tầng và thu hút doanh nghiệp vào các khu công nghiệp ven biển như Khu công nghiệp Dệt may Rạng Đông, Khu công nghiệp Hải Long (VSIP Nam Định) giai đoạn 1 và Khu công nghiệp Minh Châu giai đoạn 1.
Sự hình thành các khu công nghiệp tập trung tạo thêm dư địa cho công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và các ngành sản xuất có khả năng kết nối với logistics.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Nghị quyết nhấn mạnh là xây dựng và mở rộng Khu kinh tế Ninh Cơ thành khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa ngành.
Tuy nhiên, để khu vực ven biển thực sự trở thành động lực tăng trưởng, quỹ đất công nghiệp cần đi cùng hạ tầng giao thông, điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải, kho bãi và dịch vụ logistics.
Đây cũng là yếu tố quyết định khả năng thu hút các dự án quy mô lớn và nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Một trong những dự án được tỉnh thúc đẩy là tuyến đường từ ĐT490 đến Cồn Xanh. Việc hoàn thiện các thủ tục để triển khai dự án được kỳ vọng tạo thêm dư địa phát triển cho khu vực, tăng khả năng kết nối giữa các khu công nghiệp, vùng sản xuất và hệ thống giao thông chính.
Khi hạ tầng được đầu tư đồng bộ, khu vực ven biển có điều kiện hình thành chuỗi sản xuất - vận chuyển - chế biến - tiêu thụ thay vì các dự án phát triển riêng lẻ.
Đón dòng vốn vào công nghiệp ven biển
Danh mục dự án đang được hoàn thiện thủ tục cho thấy định hướng thu hút đầu tư của Ninh Bình đang mở rộng sang những lĩnh vực có quy mô lớn và khả năng tạo liên kết với các ngành công nghiệp khác.
Đáng chú ý, dự án sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn được điều chỉnh thành Dự án Nhà máy sản xuất ô tô tải chạy điện và máy công trình chạy điện.
Nếu triển khai đúng tiến độ, dự án có thể bổ sung một mắt xích mới cho hệ sinh thái công nghiệp, đồng thời tạo nhu cầu đối với linh kiện, thiết bị, cơ khí và các dịch vụ kỹ thuật liên quan.
Bên cạnh đó là Dự án Nhà máy đóng tàu Xuân Thiện tại xã Rạng Đông. Đây là lĩnh vực gắn trực tiếp với kinh tế biển, đồng thời có khả năng kéo theo nhu cầu về vật liệu, cơ khí, thiết bị, sửa chữa, vận tải và dịch vụ kỹ thuật.
Giá trị của một dự án đóng tàu vì vậy không chỉ nằm ở sản phẩm cuối cùng mà còn ở khả năng hình thành mạng lưới doanh nghiệp cung ứng. Nếu phát triển được chuỗi cung ứng tại chỗ, khu vực ven biển có thể tăng tỷ lệ giá trị gia tăng được giữ lại trong nền kinh tế địa phương.
Để thu hút các dự án lớn, Ninh Bình cần tiếp tục hoàn thiện quỹ đất sạch, hạ tầng và thủ tục đầu tư, đồng thời hướng tới những nhà đầu tư có năng lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm triển khai thực tế.

Quy hoạch hướng đến hình thành không gian phát triển đồng bộ giữa công nghiệp, đô thị, dịch vụ, logistics, cảng biển và kinh tế biển.
Phát triển kinh tế biển cũng không thể tách rời thủy sản. Nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần thủy sản tiếp tục là những lĩnh vực quan trọng đối với khu vực ven biển.
Lợi thế của Ninh Bình nằm ở vùng bãi bồi và hệ sinh thái ven biển. Tuy nhiên, giá trị của thủy sản không chỉ phụ thuộc vào sản lượng mà còn nằm ở khả năng tổ chức sản xuất, bảo quản, chế biến và mở rộng thị trường.
Do đó, phát triển thủy sản cần gắn với nâng cao chất lượng, kiểm soát môi trường nước, bảo vệ nguồn lợi và tăng tỷ lệ sản phẩm qua chế biến. Khi chuỗi giá trị được kéo dài từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ, cùng một đơn vị tài nguyên có thể tạo ra giá trị kinh tế cao hơn.
Phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường
Cùng với thu hút đầu tư, bảo vệ hệ sinh thái là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế biển.
Các khu vực có giá trị sinh thái cao, trong đó có Vườn Quốc gia Xuân Thủy, cần được quản lý chặt chẽ trong quá trình triển khai các dự án. Đây không chỉ là những khu vực có giá trị đa dạng sinh học mà còn có tiềm năng nghiên cứu, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái.
Vì vậy, hiệu quả của một dự án ven biển không thể chỉ được tính bằng vốn đầu tư, doanh thu hay số lao động tạo ra. Các yếu tố như sức chịu tải của hệ sinh thái, chất lượng nguồn nước, khả năng xử lý chất thải và tác động đến sinh kế người dân cũng cần được tính toán ngay từ khâu quy hoạch.
Đặc biệt, với các dự án công nghiệp quy mô lớn, yêu cầu về công nghệ, xử lý chất thải và sử dụng tài nguyên hiệu quả cần được đặt lên hàng đầu.
Không gian ven biển ngày càng có sự đan xen giữa công nghiệp, đô thị, du lịch, nuôi trồng thủy sản và bảo tồn thiên nhiên. Nếu thiếu quy hoạch đồng bộ, các ngành có thể phát sinh xung đột về đất đai, nguồn nước và không gian sinh thái.
Ngược lại, quy hoạch hợp lý sẽ giúp từng khu vực phát huy đúng lợi thế, đồng thời hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường.
Một trong những yêu cầu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển của Ninh Bình là tăng cường liên kết giữa các ngành.
Công nghiệp tạo động lực sản xuất; giao thông và logistics bảo đảm khả năng kết nối; thủy sản khai thác lợi thế tự nhiên; du lịch và dịch vụ gia tăng giá trị từ cảnh quan, hệ sinh thái; trong khi khoa học - công nghệ hỗ trợ nâng năng suất và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Trong mô hình này, một dự án chỉ tạo tác động lớn khi có khả năng kéo theo các hoạt động kinh tế khác.
Một nhà máy có thể tạo việc làm và đóng góp ngân sách, nhưng nếu nguyên liệu, dịch vụ kỹ thuật và logistics chủ yếu phải đưa từ địa phương khác đến, phần giá trị gia tăng giữ lại tại địa phương sẽ hạn chế.
Ngược lại, khi hình thành được cụm liên kết ngành, các dự án lớn có thể tạo thị trường cho doanh nghiệp vệ tinh, mở rộng việc làm và thúc đẩy các dịch vụ hỗ trợ.
Do đó, bên cạnh thu hút vốn, Ninh Bình cần quan tâm đến chất lượng và mức độ liên kết của từng dự án với nền kinh tế địa phương.
Đẩy nhanh dự án, nâng chất lượng dòng vốn
Trong giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra là vừa đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, vừa nâng cao chất lượng dòng vốn vào khu vực ven biển.
Các dự án đang hoàn thiện thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và chuẩn bị đầu tư cần được tháo gỡ kịp thời những vướng mắc liên quan đất đai, quy hoạch, hạ tầng và thủ tục hành chính.
Việc đẩy nhanh tiến độ không chỉ giúp dự án sớm đi vào hoạt động mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa đối với các dự án và ngành dịch vụ liên quan.
Song song với đó, việc lựa chọn nhà đầu tư cần chú trọng năng lực tài chính, công nghệ và khả năng triển khai thực chất. Điều này góp phần hạn chế tình trạng dự án chậm triển khai, sử dụng đất chưa hiệu quả hoặc hạ tầng được đầu tư nhưng chưa tạo ra động lực tăng trưởng tương xứng.
Kinh tế biển đòi hỏi tầm nhìn dài hạn. Mỗi quyết định đầu tư hôm nay sẽ tác động đến cấu trúc không gian ven biển trong nhiều năm tới.
Vì vậy, bên cạnh tốc độ triển khai, các tiêu chí về hiệu quả sử dụng đất, công nghệ, môi trường, việc làm và mức độ liên kết với doanh nghiệp địa phương cần được xem xét đồng thời.
Khi hạ tầng được đầu tư đồng bộ, dòng vốn được định hướng vào các ngành có khả năng tạo giá trị gia tăng, thủy sản được nâng cấp theo chuỗi và hệ sinh thái ven biển được bảo vệ, khu vực ven biển Ninh Bình có thêm cơ sở để trở thành động lực tăng trưởng mới.
Đây cũng là nền tảng để tỉnh từng bước xây dựng nền kinh tế biển theo hướng hiện đại, đa ngành, có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.











