món cho vườn bia (beer garden)fingerfood tốt cho nhà hàngcua cấp đông có ngon không?cua đông lạnh có ngon không?
Xuất bản ngày 11/10/2026 08:14 AM

Tiềm lực khoa học công nghệ: Thước đo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Việt Nam

Đỗ Huệ
Đỗ Huệ
(VTC News) -

Nhân lực chất lượng cao, hạ tầng nghiên cứu, nguồn lực tài chính và thể chế đóng vai trò quyết định cho sự bứt phá năng lực khoa học, công nghệ của mỗi quốc gia.

Thước đo năng lực cạnh tranh toàn cầu

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa vào tri thức, quốc gia nào sở hữu năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi và nhanh chóng đưa kết quả khoa học vào sản xuất sẽ có lợi thế trong các ngành giá trị gia tăng cao, đồng thời nâng cao khả năng ứng phó với biến động bên ngoài.

Nhận thức rõ yêu cầu này, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới phương thức quản trị và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo GS.TS Mai Thanh Phong, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP.HCM, để Nghị quyết 57 đi vào cuộc sống cần đồng thời phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường liên kết Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp và hoàn thiện cơ chế, chính sách… Ông nhấn mạnh con người vẫn là yếu tố quyết định; các cơ sở nghiên cứu cần tập trung vào lĩnh vực thế mạnh, xây dựng đội ngũ khoa học mạnh và có chính sách đủ sức thu hút, giữ chân nhân tài.

Nhiều chuyên gia cũng nhận định, tiềm lực KH&CN của một quốc gia được cấu thành từ những trụ cột bao gồm nhân lực, hạ tầng, tài chính và thể chế.

Đầu tiên là yếu tố nguồn nhân lực. Chúng ta có lực lượng nghiên cứu trẻ, thích ứng nhanh với công nghệ mới, song vẫn thiếu các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư có khả năng làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn hay y sinh học. Tỷ lệ nhân lực làm công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) vẫn còn khoảng cách so với các nước trong khu vực. Nghị quyết 57 đặt ra mục tiêu rõ ràng: Đến năm 2030, tỷ lệ nhân lực nghiên cứu và phát triển công nghệ đạt 12 người/1 vạn dân.

Nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quan trọng trong phát triển tiềm lực khoa học công nghệ nước nhà. (Ảnh: Đỗ Huệ)

Nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò quan trọng trong phát triển tiềm lực khoa học công nghệ nước nhà. (Ảnh: Đỗ Huệ)

Tiếp đến là hạ tầng nghiên cứu. Hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm nghiên cứu, cơ sở thử nghiệm, hạ tầng tính toán và dữ liệu dùng chung có vai trò quan trọng đối với những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học và vật liệu mới. Đầu tư hạ tầng cần đi cùng cơ chế khai thác hiệu quả, liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, tránh tình trạng thiết bị đắt tiền nhưng thiếu nguồn lực vận hành hoặc ít được sử dụng.

Tài chính là yếu tố quyết định quy mô và tính liên tục của hoạt động nghiên cứu. KH&CN cần nguồn lực dài hạn bởi nghiên cứu cơ bản và phát triển công nghệ thường đòi hỏi thời gian, có độ trễ và tiềm ẩn rủi ro. Bên cạnh ngân sách Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), mở rộng hợp tác công - tư và phát huy các quỹ khoa học, công nghệ.

Cuối cùng là thể chế - Chìa khoá giải phóng sức sáng tạo. Nghị quyết 57 đã tạo ra bước đột phá về tư duy, chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong hoạt động nghiên cứu; chuyển từ cơ chế xin - cho sang cơ chế đặt hàng, khoán chi, quỹ; cho phép tổ chức khoa học thành lập doanh nghiệp thương mại hoá kết quả... Hệ thống thể chế cũng từng bước được hoàn thiện với nhiều luật, nghị định mới về dữ liệu, AI, chuyển đổi số, sở hữu trí tuệ và thương mại hoá...

Cơ hội và thách thức

Thực trạng tại Việt Nam cho thấy cả cơ hội và thách thức đối với phát triển KH&CN. Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026, Việt Nam xếp hạng 43/139, tăng 1 bậc so với năm trước và tăng 16 bậc trong một thập niên. Việt Nam đứng thứ 3 ASEAN (sau Singapore và Malaysia), duy trì vị thế dẫn đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và hàng hóa sáng tạo.

Đầu ra đổi mới sáng tạo được cải thiện, song đầu vào - đặc biệt nguồn nhân lực và nghiên cứu - còn hạn chế. Hệ sinh thái khởi nghiệp có tiến bộ với một số kỳ lân, nhưng liên kết viện - trường - doanh nghiệp vẫn yếu; nhiều kết quả nghiên cứu “nằm im” trên giấy.

Việt Nam cũng đã xây dựng được mạng lưới tổ chức nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ, từng bước hình thành năng lực trong một số lĩnh vực mới. Tuy nhiên, quy mô đầu tư cho R&D vẫn là thách thức đáng chú ý.

Theo Báo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng về trí tuệ nhân tạo của UNESCO công bố năm 2025, tổng chi cho R&D của Việt Nam năm 2021 đạt 36.066 tỷ đồng, tương đương 0,42% GDP. Đây là số liệu có độ trễ, nhưng cho thấy khoảng cách giữa nguồn lực nghiên cứu thực tế và mục tiêu phát triển đặt ra.

Nghị quyết 57 đặt mục tiêu đến năm 2030, chi cho nghiên cứu và phát triển đạt 2% GDP, trong đó nguồn lực ngoài ngân sách Nhà nước chiếm hơn 60%. Mục tiêu này đòi hỏi sự chuyển biến đồng thời trong đầu tư công, năng lực nghiên cứu của viện, trường và mức độ tham gia của doanh nghiệp.

Ở góc độ triển khai chính sách, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tư duy đề xuất đề tài sang phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược có đầu ra cụ thể, làm chủ công nghệ lõi và xác định rõ địa chỉ ứng dụng. Điều này cho thấy hiệu quả phát triển tiềm lực KH&CN cần được đo bằng năng lực tạo ra công nghệ, sản phẩm và giá trị thực tế, thay vì chỉ dựa vào quy mô đầu tư hay số lượng nhiệm vụ nghiên cứu.

Hiệu quả phát triển tiềm lực KH&CN cần được đo bằng năng lực tạo ra công nghệ, sản phẩm và giá trị thực tế. (Ảnh: Đỗ Huệ)

Hiệu quả phát triển tiềm lực KH&CN cần được đo bằng năng lực tạo ra công nghệ, sản phẩm và giá trị thực tế. (Ảnh: Đỗ Huệ)

Thách thức hiện nay không chỉ nằm ở nguồn vốn mà còn ở khả năng kết nối các thành tố của hệ sinh thái KH&CN. Nếu nhân lực thiếu môi trường phát triển, hạ tầng không được khai thác hiệu quả, doanh nghiệp ít đầu tư R&D và thể chế chưa khuyến khích đổi mới sáng tạo, nguồn lực dù lớn cũng khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh.

Phát triển tiềm lực KH&CN không phải là cuộc đua của riêng ngành khoa học, mà là sứ mệnh của toàn Đảng, toàn dân và toàn hệ thống chính trị. Với quyết tâm chính trị cao, nguồn lực được ưu tiên, thể chế được tháo gỡ và nhân tài được trọng dụng, tiềm lực KH&CN chắc chắn sẽ trở thành nền tảng vững chắc để Việt Nam bứt phá, hiện thực hóa khát vọng trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 - đúng như tinh thần Nghị quyết 57 đã soi đường.

Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn
Cùng chuyên mục