nuôi cua bằng AInuôi cua AInuôi cua tuần hoàn AIcua lột Việt Nam
Xuất bản ngày 11/10/2026 08:14 PM

Công nghệ sinh học Việt Nam: Từ nghiên cứu đến làm chủ công nghệ

Đỗ Huệ
Đỗ Huệ
(VTC News) -

Từ vaccine “made in Vietnam”, giống cây trồng mới đến y học chính xác, công nghệ sinh học và y sinh đang đi vào đời sống và mở đường cho sự phát triển bền vững.

Từ phòng thí nghiệm đến đời sống

Những năm qua, công nghệ sinh học Việt Nam đã chứng minh sức mạnh thực tiễn trên nhiều lĩnh vực then chốt của đời sống xã hội.

Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, từ chỗ hoàn toàn phụ thuộc vào vaccine nước ngoài, đến cuối 2025, các doanh nghiệp Việt đã sản xuất được 11/12 loại vaccine cho Chương trình Tiêm chủng mở rộng, đáp ứng hơn 90% nhu cầu nội địa, cung cấp vaccine miễn phí cho hơn 1,2 triệu trẻ em mỗi năm.

Nhờ những tiến bộ trong nghiên cứu và sản xuất vaccine, trong nhiều năm qua, Việt Nam đã thanh toán được các bệnh truyền nhiễm như đậu mùa, bại liệt, uốn ván sơ sinh. Các bệnh sởi, viêm gan B cũng giảm mạnh, giúp chúng ta tiết kiệm hàng tỷ USD chi cho y tế và cứu sống hàng nghìn trẻ mỗi năm.

Việt Nam cũng được định danh là một trong gần 40 quốc gia hội đủ điều kiện xuất khẩu vaccine trên thế giới. Đặc biệt, năm 2021, Hệ thống quản lý quốc gia về vaccine (NRA) của Việt Nam lại được WHO công nhận đạt cấp độ hoàn thiện 3, mức cao thứ hai trong hệ thống phân loại của tổ chức này.

Trên cơ sở đó, các cơ sở sản xuất vaccine như POLYVAC, VABIOTECH, IVAC, DAVAC không ngừng nâng cao năng lực, từng bước mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế như Ấn Độ, Đông Timor, Hàn Quốc, Myanmar…

Đáng chú ý, tháng 9/2026, hợp tác VNVC - Sanofi mở đường sản xuất vaccine thế hệ mới gồm 6 trong 1, cúm mùa, não mô cầu, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á tự chủ sản xuất các vaccine này từ năm 2028-2029.

Các doanh nghiệp Việt đã sản xuất được 11/12 loại vaccine cho Chương trình Tiêm chủng mở rộng, đáp ứng hơn 90% nhu cầu nội địa. (Ảnh: VNVC)

Các doanh nghiệp Việt đã sản xuất được 11/12 loại vaccine cho Chương trình Tiêm chủng mở rộng, đáp ứng hơn 90% nhu cầu nội địa. (Ảnh: VNVC)

Không chỉ ở vaccine, công nghệ sinh học còn mở ra hướng tiếp cận mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh thông qua công nghệ gen và y học chính xác. Dự án giải mã hơn 1.000 hệ gen người Việt (VN1K) công bố trên Nature Communications đã xây dựng cơ sở dữ liệu với hơn 42 triệu biến thể di truyền (trong đó 8,5 triệu biến thể mới), tạo hệ gen tham chiếu quần thể đầu tiên dành riêng cho người Việt, hỗ trợ nghiên cứu và tiến tới cá thể hoá các phương pháp chăm sóc sức khoẻ...

Nếu trong y tế, công nghệ sinh học góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ, thì trong nông nghiệp, lĩnh vực này lại tạo điều kiện cải thiện năng suất và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhiều giống lúa chịu mặn, kháng rầy nâu, đạo ôn được chọn tạo; các nghiên cứu về giống ngô, đậu tương chuyển gen; nhân bản thành công lợn Ỉ quý hiếm; chọn tạo dòng cá tra G5 cũng ghi nhận những kết quả đáng chú ý.

Những ứng dụng tương tự cũng đang được mở rộng sang lĩnh vực bảo vệ môi trường. Chế phẩm vi sinh, phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học và vaccine thú y (trong đó vaccine dịch tả lợn châu Phi AVAC ASF LIVE là một trong hai vaccine thương mại đầu tiên trên thế giới) đã góp phần nâng cao năng suất, giảm hóa chất, hướng tới nông nghiệp xanh - tuần hoàn.

Trong bảo vệ môi trường, các loại chế phẩm sinh học xử lý nước thải, chất thải chăn nuôi, cải tạo đất và xử lý phụ phẩm nông nghiệp đang được thương mại hóa rộng rãi, hỗ trợ kinh tế tuần hoàn và giảm ô nhiễm.

Cơ hội nâng cao năng lực nghiên cứu và sản xuất

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định khoa học - công nghệ là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đưa đất nước bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Trong định hướng này, công nghệ sinh học và y sinh có ý nghĩa đặc biệt bởi tác động trực tiếp đến sức khoẻ Nhân dân, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường.

Cùng với Nghị quyết 57, Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 21/4/2026 của Thủ tướng về phát triển công nghệ sinh học thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng cũng đặt ra yêu cầu đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất, đời sống. Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đóng vai trò nòng cốt trong việc cụ thể hóa các định hướng này, thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học.

Trên thực tế, Việt Nam đã hình thành mạng lưới nghiên cứu và sản xuất với sự tham gia của các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Viện Công nghệ sinh học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, các viện thuộc Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP.HCM cùng các doanh nghiệp như VABIOTECH, POLYVAC, Nanogen đã tham gia phát triển nhiều công nghệ, từ nuôi cấy mô, sản xuất protein tái tổ hợp đến chỉnh sửa gene CRISPR/Cas9 và giải trình tự gene thế hệ mới.

GS.TS. Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho rằng, chúng ta đang có tiềm năng rất lớn để bứt phá.

“Với dân số hơn 100 triệu người và khoảng 20 triệu khách du lịch quốc tế mỗi năm, nếu có chiến lược đầu tư đủ mạnh cho hạ tầng nghiên cứu, trung tâm tiền lâm sàng - lâm sàng hiện đại, doanh nghiệp công nghệ sinh học và cơ chế pháp lý linh hoạt hơn, thì công nghệ sinh học hoàn toàn có thể trở thành một ngành kinh tế chiến lược trong 10 - 20 năm tới. Khi đó, Việt Nam không chỉ đáp ứng tốt nhu cầu điều trị trong nước mà còn có thể thu hút du lịch chữa bệnh, từng bước trở thành trung tâm y sinh của khu vực”.

Việt Nam đang có tiềm năng rất lớn để bứt phá về công nghệ sinh học và y sinh.

Việt Nam đang có tiềm năng rất lớn để bứt phá về công nghệ sinh học và y sinh.

Để hiện thực hóa tiềm năng này, theo chuyên gia, trước hết cần hoàn thiện hành lang pháp lý, bảo đảm phù hợp với xu hướng phát triển của công nghệ mới. Cùng với đó là đầu tư có trọng điểm cho hạ tầng nghiên cứu, nhất là các phòng thí nghiệm đạt chuẩn GLP và hệ thống sản xuất thử nghiệm đạt chuẩn GMP, tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được kiểm chứng, hoàn thiện và đưa vào sản xuất.

Một yêu cầu quan trọng khác là xây dựng cơ chế đủ mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp nhận, giải mã và làm chủ công nghệ. Việc này không chỉ giúp nâng cao năng lực sản xuất trong nước mà còn hạn chế nguy cơ phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Phát triển công nghệ sinh học theo tinh thần Nghị quyết 57 không chỉ là tăng đầu tư cho khoa học mà còn là đổi mới cách tổ chức nghiên cứu, hoàn thiện thể chế và hình thành thị trường cho sản phẩm công nghệ cao. Khi các mắt xích được kết nối, kết quả nghiên cứu sẽ có cơ hội đi nhanh hơn từ phòng thí nghiệm đến bệnh viện, cánh đồng và các hệ thống xử lý môi trường, góp phần nâng cao chất lượng sống và đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ sinh học toàn cầu.

Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn
Cùng chuyên mục